Với Zagajewsky, lịch sử không phải là thứ có thể bị loại bỏ một cách nhẹ nhàng, mặc cho những nổ lực lớn nhất của ông. ‘‘Toàn bộ nền giáo dục của tôi là một người viết. Cố gắng giải phóng tôi khỏi những thay đổi không lường được và cau có của Lịch Sử’’, ông viết.
Một trong những bài thơ hay nhất gần đây của ông có tên “Hãy gắng ca ngợi Thế Giới  Vụn Nát”: “Bạn đã nhìn thấy những người tị nạn đang không nơi nương tựa / bạn đã nghe thấy những đao phủ vui vẻ hát / Bạn hãy ca ngợi thế giới vụn nát/ Hãy nhớ những phút giây chúng ta  đến với nhau / Trong  căn phòng màu trắng và tấm màn xào xạc / Hãy quay lại trong ý tưởng về sự hòa hợp nơi âm nhạc cất lên “
For Zagajewski, history was not something that could be lightly discarded, despite his best efforts. “My entire education as a writer,” he has written, “strove to free me from the caprices and grimaces of History.”

One of his best recent poems is called “Try to Praise the Mutilated World”: “You’ve seen the refugees going nowhere, / you’ve heard the executioners sing joyfully. / You should praise the mutilated world. / Remember the moments when we were together / In a white room and the curtain fluttered. / Return in thought to the concert where music flared.”

https://www.theguardian.com/books/2004/may/01/poetry.colmtoibin

 

 

CHỦ NGHĨA THẦN BÍ CHO NHỮNG NGƯỜI MỚI BẮT ĐẦU

Ngày ấm áp, ánh sáng hào phóng
Người Đức nơi sảnh cà phê
Để cuốn sách nhỏ trên gối
Tôi bắt gặp tiêu đề:
Chủ nghĩa thần bí cho Những người mới bắt đầu’
Bỗng nhiên tôi hiểu ra rằng những con chim én
đang bay vòng qua những đường phố Montepulciano
với những tiếng hót inh tai của chúng,
và cuộc chuyện trò có vẻ lặng lẽ của những du khách nhúc nhát
đến từ phía Đông, Trung Âu,
và những con cò trắng đang đứng—[từ] hôm qua ? [hay từ] ngày trước?—
như những nữ tu trong cánh đồng lúa,
và hoàng hôn, chậm và [có vẻ] có cách
xóa bỏ những đường biên của những ngôi nhà cất theo lối trung cổ,
và những cây ô liu trên những ngọn đồi nhỏ,
bị bỏ lại trong gió và trong cái nóng,
và cái đầu của những nữ hoàng không tên tuổi
tôi đã nhìn thấy và ngưỡng mộ nơi bảo tàng Louvre,
và những cánh cửa sổ kính bị vỡ trông như những cánh bướm
lốm đốm phấn hoa,
và con họa mi nhỏ đang tập luyện
bài thuyết trình của mình bên con đường cao tốc,
và bất cứ cuộc hành trình nào, bất cứ cách thức dạo chơi nào,
chỉ là [thứ] chủ nghĩa thần bí cho những người mới bắt đầu,
bài học vỡ lòng, báo trước
cho sự thử thách là được
hoãn lại

 

MYSTICISME FOR BEGINNERS

Translated by Clare Cavanagh

The day was mild, the light was generous.

The German on the café terrace

held a small book on his lap.

I caught sight of the title:

Mysticism for Beginners.

Suddenly I understood that the swallows

patrolling the streets of Montepulciano

with their shrill whistles,

and the hushed talk of timid travelers

from Eastern, so-called Central Europe,

and the white herons standing—yesterday? the day before?—

like nuns in fields of rice,

and the dusk, slow and systematic,

erasing the outlines of medieval houses,

and olive trees on little hills,

abandoned to the wind and heat,

and the head of the Unknown Princess

that I saw and admired in the Louvre,

and stained-glass windows like butterfly wings

sprinkled with pollen,

and the little nightingale practicing

its speech beside the highway,

and any journey, any kind of trip,

are only mysticism for beginners,

the elementary course, prelude

to a test that’s been

postponed.

 

***

 

HÃY CỐ CA NGỢI THẾ GIỚI VỤN NÁT

Hãy cố ca ngợi thế giới vụn nát.
Nhớ những ngày dài tháng Sáu
và những quả dây tây hoang dại, những giọt vang hồng
Đám cây tầm ma như có cách phủ lên
những ngôi nhà bỏ hoang của những kẻ lưu đày
Bạn phải ca ngợi thế giới vụn nát.
Bạn đã nhìn thấy những du thuyền và những chiếc tàu thời trang,
một số trong số thuyền đó trước đó đã có những chuyến đi dài,
trong khi niềm lãng quên chua chát chờ đợi những thuyền khác
Bạn đã nhìn thấy những người tị nạn không có nơi để đến
bạn đã nghe thấy đám đao phủ ca hát vui vẻ.
Bạn phải ca ngợi thế giới vụn nát
Hãy nhớ những khoảnh khắc chúng ta đến với nhau
trong căn phòng màu xám và tấm màng [thì] xào xạc
Hãy quay lại ý tưởng về buổi hòa nhạc nơi âm nhạc bừng lên
Bạn đã gom những quả sồi trong công viên mùa thu
và những chiếc lá xoay tít trên những vết sẹo của đất đai
Hãy ca ngợi thế giới vụn nát
và chiếc lông màu xám con chim thust làm rơi,
và ánh sáng dịu dàng lang thang và dần tan
và trở lại

 

TRY TO PRAISE THE MULTILATED WORLD

Translated by Clare Cavanagh

Try to praise the mutilated world.

Remember June’s long days,

and wild strawberries, drops of rosé wine.

The nettles that methodically overgrow

the abandoned homesteads of exiles.

You must praise the mutilated world.

You watched the stylish yachts and ships;

one of them had a long trip ahead of it,

while salty oblivion awaited others.

You’ve seen the refugees going nowhere,

you’ve heard the executioners sing joyfully.

You should praise the mutilated world.

Remember the moments when we were together

in a white room and the curtain fluttered.

Return in thought to the concert where music flared.

You gathered acorns in the park in autumn

and leaves eddied over the earth’s scars.

Praise the mutilated world

and the gray feather a thrush lost,

and the gentle light that strays and vanishes

and returns.

 

nguồn: Adam Zagajewski, “Try to Praise the Mutilated World” from Without End: New and Selected Poems. Copyright © 2002 by Adam Zagajewski.

Without End: New and Selected Poems (Farrar, Straus and Giroux, 2002)